Download KỸ THUẬT TRỒNG LAN CẮT CÀNH PDF

TitleKỸ THUẬT TRỒNG LAN CẮT CÀNH
File Size70.0 KB
Total Pages6
Document Text Contents
Page 1

KỸ THUẬT TRỒNG LAN CẮT CÀNH

I. Đặc tính thực vật học:

1.1 Rễ lan: Lan là họ sống phụ (bì sinh) bám, treo lơ lửng trên các
cây thân gỗ khác. Các dạng thân gỗ nạc dài, ngắn, mập hay mảnh
mai đưa cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành các bụi dày. -Rễ làm
nhiệm vụ hấp thu chất dinh dưỡng, chúng được bao bởi lớp mô hút
dày, ẩm bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí, do đó
nó ánh lên màu xám bạc. Với lớp mô xốp, rễ có khả năng hấp thu
nước mưa chảy dọc dài trên vỏ cây, lấy nước lơ lửng trên không khí.

1.2 Thân cây lan: Lan có 2 loại thân: Đa thân và đơn thân. Ở các
loài lan sống phụ có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành).
Đó là bộ phận dự trữ nước và các chất dinh dưỡng để nuôi cây trong
điều kiện khô hạn khi sống bám trên cao. Củ giả rất đa dạng: Hình
cầu hoặc hình thuôn dài xếp sát nhau hay rải rác đều đặn hoặc hình
trụ xếp chồng chất lên nhau thành một thân giả. -Cấu tạo củ giả:
Gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy, phía ngoài là lớp biểu bì
với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ, tránh sự mất nước do mặt
trời hun nóng. Đa số củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá
làm nhiệm vụ quang hợp.

1.3 Lá lan: Hầu hết các loài phong lan là cây tự dưỡng, nó phát
triển đầy đủ hệ thống lá. -Hình dạng của lá thay đổi rất nhiều, từ
loại lá mọng nước đến loại lá phiến mỏng. Phiến lá trải rộng hay gấp
lại theo các gân vòng cung hay chỉ gấp lại theo gân hình chữ V. Màu
sắc lá thường xanh bóng, nhưng có trường hợp 2 mặt lá khác nhau.
Thường mặt dưới có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lại khảm
nhiều màu sặc sỡ.

1.4 Hoa lan: Hoa đối xứng qua một mặt phẳng. Bên ngoài có 6 cánh
hoa, trong đó 3 cánh ngoài cùng là 3 cánh đài, thường có màu sắc
và kích thước giống nhau. Một cánh đài nằm ở phía trên hay phía
sau của hoa gọi là cánh đài lý, hai cánh đài nằm ở 2 bên gọi là cánh
đài cạnh. Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa,
chúng giống nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc. Cánh còn lại
nằm ở phía trên hay phía dưới, có hình dạng và màu sắc khác hẳn

Page 2

với các cánh còn lại gọi là cánh môi. Cánh môi quyết định giá trị
thẩm mỹ của hoa lan.

1.5. Quả lan: Quả lan thuộc quả nang, nở ra theo 3 – 6 đường nứt
dọc.

1.6 Hạt lan: Hạt lan rất nhiều, hạt liti. Hạt chỉ cấu tạo bởi một lớp
chưa phân hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí.
Hạt trưởng thành sau 2 – 18 tháng.

II. Kỹ thuật trồng:

2.1 Giống lan: Lan cắt cành phổ biến hiện nay như Dendrobium,
Mokara, Vadan, Oncibium. Trong đó, loại Lan cắt cành chủ lực là
Dendrobium, Mokara. Có nhiều cách để nhân giống hoa Lan như
gieo hột ( ít được phổ biến vì quá khó khăn, hiệu quả không cao),
cấy mô (khá phổ biến hiện nay) và tách chiết cây con từ cây mẹ.
(áp dụng cho các nhà vườn trồng Lan với qui mô nhỏ).

2.2 Địa điểm: Địa điểm lập giàn lan (tức lập vườn lan) có thể là
trước sân nhà, đất trống bên hông nhà. Nơi lập vườn lan có thể là
đất vườn, đất ruộng, đất bưng đều được, miễn là nơi đó mát mẻ,
thông thoáng và gần nguồn nước tưới.

2.3 Chọn hướng: Chọn hướng của giàn lan để lan tránh được ánh
sáng trực xạ làm cho héo cây, cháy lá. Vì vậy, làm giàn lan phải
chọn đúng hướng. Thông thường, lớp lưới che cho giàn lan được lợp
thẳng góc với đi của mặt trời, để bên trong giàn lan lúc nào cũng
nhận được ánh sáng phù hợp với sinh trưởng và phát triển của cây
lan.

2.4 Khung sườn giàn lan: Cột chống đỡ cho giàn Lan thường bằng
trụ xi măng hoặc trụ sắt hoặc cây (tuỳ theo điều kiện kinh tế
hộ).Chiều cao của cột: 3 – 3,5 m, chiều rộng tuỳ theo kích thước
vườn, nóc có thể làm theo kiểu nhà một mái hoặc hai mái, tốt nhất
là nóc bằng.

2.5 Mái che: Hiện nay, mái che giàn lan bằng lưới. Lưới có 2 loại;
lưới đen và lưới xanh. Mái giàn lợp bằng tre, bằng gỗ rất mau mục
nhưng với lưới thì vừa nhẹ, vừa dùng được lâu. Lưu ý khi lợp lưới

Page 5

cây lan hoặc hỗn hợp môi trường. Tuỳ theo cây phát triển như thế
nào và kích thươc lớn nhỏ mà phun. Trung bình với lượng dung dịch
phân như trên có thể phun 500 cây lan. -Phun đều, định kỳ 3 – 5
ngày/lần. Khi cây trưởng thành nên dùng phân NPK 20 – 20 – 20
hoặc NPK 10 – 30 – 10 để kích thích ra hoa. Khi cây vừa hé hoa thì
dùng phân NPK 10 – 10 – 30 để hoa có màu sắc đẹp và lâu tàn. Khi
hoa đã tàn hoặc cắt cành rồi nên đổi sang dùng phân NPK 30 – 10 –
10 để cây tăng trưởng ra chồi và lá nhanh. Riêng Vanda rất chịu
phân chuồng như phân bò hoai phơi khô bỏ vào gốc, cây rất tốt, ra
nhiều hoa, màu sắc đẹp. Đa số lan Dendrobium sp ưa nóng, ưa ẩm,
ưa thoáng. Vì vậy, trung bình tưới 2 lần/ngày, ngày nào có nắng gắt
có thể tưới thêm một lần nữa. Lưu ý, không tưới nước nhiễm phèn vì
sẽ tổn thương bộ rễ. Nước bị nhiễm mặn hoặc nước ao hồ, sông suối
ô nhiễm cũng ảnh hưởng đến cây. Giàn lan luôn luôn phải được làm
vệ sinh chung quanh, nhổ cỏ rác, diệt côn trùng như dế, ốc sên,
bướm tránh lây mầm bệnh, giữ giàn lan luôn được thông thoáng.

III. Phòng trừ sâu bệnh:

3.1 Bệnh hại trên lan:

* Bệnh đen thân cây lan: Do nấm Fusarium sp. gây nên. Phòng trị:
Nên tách những cây bị bệnh để riêng và dùng thuốc phòng trừ hay
nhúng cả cây vào thuốc trị nấm. Nếu cây lớn hơn thì cắt bỏ phần
thối rồi phun thuốc diệt nấm như Carboxin 1/2000; Zineb 3/2000;
Benlat 1/2000.

* Bệnh đốm lá:Do nấm Cercospora sp. gây nên. Bệnh thường phát
sinh mạnh trên cây lan Dendrobium sp., gây hại trong mùa mưa ở
những vườn lan có độ ẩm cao. Phun thuốc trừ nấm (như trên).

* Bệnh thán thư: do nấm Colletotrichicm sp. gây ra. Bệnh phát triển
mạnh vào mùa mưa nên phải phòng trừ trước. Thường cắt bỏ lá
vàng rồi phun thuốc diệt nấm 5 – 7 ngày/1 lần.

* Bệnh thối mềm vi khuẩn: Do vi khuẩn Pseudomonas gladioli gây
ra. Vết bệnh có hình dạng bất định, ủng nước, màu trắng đục,
thường lan rộng theo chiều rộng của lá. Gặp thời tiết ẩm ướt mô
bệnh bị thối úng, thời tiết khô hanh mô bệnh khô tóp có màu trắng
xám.

Similer Documents