Download NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ TÁC DỤNG HẠ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA THÂN RỄ CHUỐI HỘT (MUSA SEMINIFERA Lour. MUSACEAE) PDF

TitleNGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ TÁC DỤNG HẠ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA THÂN RỄ CHUỐI HỘT (MUSA SEMINIFERA Lour. MUSACEAE)
File Size2.9 MB
Total Pages63
Table of Contents
                            Kazi T.G và cs (2008) [54] đã tiến hành nghiên cứu so sánh hàm lượng một số nguyên tố vi lượng như crom (Cr), đồng (Cu), sắt (Fe), mangan (Mn), niken (Ni), và kẽm (Zn) trong các mẫu sinh học (toàn bộ máu, nước tiểu và tóc da đầu) của bệnh nhân ĐTĐ type 2 với người bình thường. Kết quả nghiên cứu cho thấy các giá trị trung bình của Zn, Mn, và Cr đã giảm đáng kể trong máu và da đầu, tóc mẫu của bệnh nhân ĐTĐ.
                        
Document Text Contents
Page 31

(+): Phản ứng dương tính (+++): Phản ứng dương tính rất rõ

Nhận xét: Qua các phản ứng định tính hóa học đặc trưng đã xác định trong thân rễ

Chuối hột có flavonoid, tanin, coumarin, sterol, đường khử, chất béo và acid hữu cơ. Trong

đó sterol và đường khử là 2 nhóm chính.

3.2.2. Chiết xuất và phân lập các hợp chất

Thân rễ Chuối hột (4,0 kg) được rửa sạch, thái mỏng, sấy khô ở nhiệt độ 60 0C,

sau đó nghiền nhỏ thu được bột thô (0,95 kg). Bột dược liệu được thấm ẩm và chiết bằng

etanol 960, phương pháp đun hồi lưu trực tiếp ở nhiệt độ 700C. Dịch chiết cất thu hồi

dung môi dưới áp suất giảm thu được 50,01 g cắn. Phân tán cắn vào nước rồi lắc với

cloroform. Dịch cloroform được cất thu hồi dung môi dưới áp suất giảm đến dung dịch

đậm đặc, dịch đặc này tẩm với silicagel rồi cô quay đến bột tơi mịn. Silicagel tẩm chất

được đưa lên cột sắc ký sau khi đã chuẩn bị cột bằng phương pháp nhồi cột ướt. Việc

chiết tách được thực hiện trên cột silicagel pha thường cỡ hạt 0,040 - 0,063 mm với hệ

dung môi rửa giải là n-hexan – aceton với độ phân cực tăng dần từ tỉ lệ n-hexan – aceton

(10:1) đến (1:1). Theo dõi các phân đoạn thu được bằng SKLM, các phân đoạn giống nhau

được gộp chung, thu được 10 phân đoạn đánh số từ H1  H10.

Phân đoạn H1 được tiến hành phân lập bằng sắc ký cột pha thường với dung môi

rửa giải là n-hexan – ethyl acetate có độ phân cực tăng dần từ tỉ lệ n-hexan – ethyl acetate

(90:1) đến (10:1) thu được 20 mg chất MS1 (1) dưới dạng chất lỏng màu vàng.

Phân đoạn H2 được tiến hành phân lập tiếp bằng sắc ký cột Sephadex LH20 với

dung môi aceton tuyệt đối. Theo dõi các phân đoạn thu được bằng SKLM, các phân đoạn

giống nhau được gộp chung, thu được 4 phân đoạn được đánh số từ H2a  H2d. Phân đoạn

H2b được tiếp tục phân lập trên cột silicagel pha đảo YMC với hệ dung môi aceton –

metanol (5:1) thu được 45 mg chất SH1 (2) dưới dạng tinh thể hình kim không màu.

Dịch nước còn lại được phân lập trên sắc ký cột (Dianion HP - 20) rửa giải với hệ

dung môi metanol : nước theo hướng giảm dần độ phân cực là 0:100 (v/v, 3 lít), 25:75 (v/v,

3 lít), 50:50 (v/v, 3 lít), 75:25 (v/v, 3 lít) và 100% metanol (1 lít). Sau khi cất thu hồi dung

môi dưới áp suất giảm thu được các phân đoạn tương ứng là D1  D5.

Phân đoạn D5 được tiến hành phân lập bằng sắc ký cột pha thường với dung môi

rửa giải là cloroform – aceton (3:1). Theo dõi các phân đoạn bằng SKLM, các phân đoạn

giống nhau gộp chung, thu được 2 phân đoạn S1 và S2.

Similer Documents